Thiên Chúa khao khát điều gì nhất cho con người?
Thiên Chúa khao khát con người nhận biết, yêu mến và sống tương quan thân tình với Chúa, để được thông phần vào hạnh phúc vĩnh cửu trong Ba Ngôi Thiên Chúa.
Thiên Chúa khao khát con người nhận biết, yêu mến và sống tương quan thân tình với Chúa, để được thông phần vào hạnh phúc vĩnh cửu trong Ba Ngôi Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã đến gần và tỏ mình ra cho con người trong mọi nơi và mọi thời. Chúa đã tỏ mình cách trọn vẹn qua cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, để cho con người được giao hòa và thông phần vào hạnh phúc của Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã trao phó sứ mạng loan báo Tin Mừng và giáo dục Đức tin cho Hội Thánh. Để trong Chúa Thánh Thần, ngang qua hoạt động của Hội Thánh, Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô vẫn không ngừng được loan báo và truyền dạy cho con người ở mọi nơi và mọi thời.
Dạy giáo lý là làm cho Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô tiếp tục được vang vọng trong tâm hồn con người. Đó là hành động của Thiên Chúa và của Hội Thánh, để tiếp tục giáo dục, đồng hành và huấn luyện người tín hữu trong đức tin và cho đức tin.
Mục đích của việc dạy giáo lý là dẫn đưa người học đến gặp gỡ Đức Kitô, nhận biết và yêu mến Người, hiệp thông với Người, được biến đổi nên giống Người và dấn thân loan báo Tin Mừng.
Nhiệm vụ của việc dạy giáo lý là đào tạo người tín hữu cách toàn diện, trở nên con người biết tuyên xưng đức tin, cử hành đức tin, sống đời sống mới trong Đức Kitô, biết cầu nguyện và tham gia vào sứ mạng của Hội Thánh.
Chúa Giêsu Kitô - Con Thiên Chúa nhập thể làm người là trung tâm của lịch sử cứu độ, là mạc khải trọn vẹn và hoàn hảo nhất của Chúa Cha.
Chúa Giêsu là mạc khải trọn vẹn và hoàn hảo nhất của Chúa Cha nghĩa là trọn vẹn cuộc đời Chúa Giêsu là hình ảnh trung thực và là vẻ huy hoàng của Thiên Chúa, là lời mạc khải viên mãn về ơn cứu độ, là tình yêu hoàn hảo và cao cả nhất của Thiên Chúa dành cho mọi người và từng người chúng ta.
Chúa Giêsu chính là trung tâm và là nội dung của giáo lý. Người là nội dung và là đối tượng chính yếu của đức tin, là chủ thể hành động trong phụng vụ và các bí tích, là chuẩn mực của đời sống luân lý, là gương mẫu và thầy dạy cầu nguyện.
Chúa Giêsu giữ vai trò là trung tâm, chủ thể và mục đích của việc dạy giáo lý. Dạy giáo lý chủ yếu là gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô, Đấng đang giảng dạy qua các phát ngôn viên là giáo lý viên, để tỏ bày toàn bộ kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa được thực hiện nơi Người, hầu dẫn đưa người học đến hiệp thông với Người và với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Dạy giáo lý đích thực không phải là dạy những lý thuyết trừu tượng, mà là cuộc gặp gỡ sống động với một Ngôi Vị là Chúa Giêsu Kitô, để tin vào Người và được hiệp thông với Người.
Kerygma là lời loan báo đầu tiên và cốt lõi nhất về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giêsu, Đấng được Thiên Chúa sai đến, đã chết trên thập giá nhưng đã sống lại đúng như lời Kinh Thánh. Các Tông đồ đã gặp và làm chứng về Người, để ai sám hối và tin vào Người thì được cứu độ.
Lời loan báo đầu tiên được chính Đức Giêsu công bố về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa nơi Người và kêu gọi sám hối, được các Tông đồ làm chứng và khẳng định: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, Người đã được mai táng, và đã sống lại đúng như lời Kinh Thánh.
Theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Kerygma là ngọn lửa Chúa Thánh Thần, là trọng tâm của mọi hoạt động loan báo Tin Mừng và cố gắng canh tân của Hội Thánh. Kerygma không chỉ trước tiên về thời gian mà còn quan trọng nhất trong mọi tiến trình dạy giáo lý, giúp gặp gỡ thân tình Đức Giêsu Kitô và thông truyền lòng thương xót vô biên của Chúa Cha.
Dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên nghĩa là không giới hạn vào việc truyền đạt giáo thuyết khô khan, nhưng chứa đựng và làm vang vọng lời công bố tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Lời loan báo đầu tiên không chỉ mở đầu rồi bị bỏ qua, nhưng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi cấp độ dạy giáo lý.
Giáo lý viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức, nhưng phải là chứng nhân đức tin và người đồng hành. Cuộc sống và môi miệng giáo lý viên phải không ngừng vang lên lời rao giảng đầu tiên: “Đức Giêsu Kitô yêu bạn; Ngài hiến mạng sống mình để cứu bạn; và bây giờ Ngài đang sống bên cạnh bạn mỗi ngày để soi sáng, ban sức mạnh và giải thoát bạn” (EG, 164).
Đó là phong cách loan báo tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trước, rồi mới nói tới các bổn phận luân lý. Dẫn đưa người học gặp gỡ Đức Kitô trước, rồi mới giải thích về các giáo huấn của Người. Giúp người học cảm nhận được yêu thương trước, để được biến đổi nên giống Chúa Kitô, hầu sẵn sàng thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng.
Dạy giáo lý là trách nhiệm của mọi thành phần trong Hội Thánh. Xuất phát từ lệnh truyền của Chúa Giêsu, mọi tín hữu phải ý thức dạy giáo lý là một trong sứ vụ chính của mình và không ngừng dốc hết tâm lực để thi hành.
Hội Thánh dùng mọi phương tiện và cơ hội để loan báo Tin Mừng và truyền dạy giáo lý cho mọi người trong những môi trường khác nhau, nhất là trong cộng đoàn giáo xứ, trong gia đình, trường học, và không gian kỹ thuật số.
Giám mục là những thầy dạy đức tin, là giáo lý viên đích thực nhất, có trách nhiệm chính yếu trong việc dạy giáo lý, phải tận tâm nhiệt thành rao giảng cho dân được trao phó cho ngài những điều phải tin, phải cử hành và phải sống.
Linh mục là giáo lý viên đầu tiên trong cộng đoàn giáo xứ, có trách nhiệm cung ứng, làm sống động, điều phối và hướng dẫn hoạt động dạy giáo lý của cộng đoàn đã được trao phó cho mình. Linh mục không được để các tín hữu thiếu hụt việc học giáo lý vì bất cứ lý do gì.
Giáo dân là những người làm chứng cho Tin Mừng giữa xã hội trần thế bằng chính đời sống là môn đệ Chúa Kitô. Họ được kêu gọi là giáo lý viên phục vụ việc dạy giáo lý, để gieo trồng đức tin, phát triển và thăng tiến đời sống người tín hữu, góp phần phát triển Hội Thánh.
Cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên, chính yếu và không thể thay thế trong việc dạy giáo lý cho con. Họ có bổn phận loan báo Tin Mừng và giáo dục đức tin cho con ngay từ tuổi thơ ấu bằng chứng tá đời sống của họ.
Họ là những chứng nhân sống động về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa qua đời sống khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Họ được mời gọi nhiệt thành tham gia vào hoạt động dạy giáo lý tùy theo đặc sủng của hội dòng, dành hết khả năng và phương tiện cho hoạt động này.
Cộng đoàn giáo xứ là nguồn gốc, không gian và mục tiêu của việc dạy giáo lý, là nơi phát sinh việc loan báo Tin Mừng. Do đó, cả cộng đoàn phải tham gia vào việc dạy và học giáo lý, bằng cách tham gia cầu nguyện, gặp gỡ, nêu gương, đồng hành, và cùng giúp nhau sống và lớn lên trong đức tin.
Thiên Chúa đã tự mạc khải Ngài là Đấng Hiện hữu, giàu nhân nghĩa và thành tín, là Chân lý và là Tình yêu.
Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, vì chính Ngài đã mạc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất, đó là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã tiền định cho chúng ta được dự phần vào sự trao đổi tình yêu đó.
Thiên Chúa đã tỏ mình cho chúng ta biết Ngài không phải là một Thiên Chúa đơn độc, nhưng là Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi tuy riêng biệt, nhưng cùng một bản thể và một uy quyền như nhau.
Nhờ Chúa Giêsu mạc khải mà chúng ta biết được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi (x. Mt 28,19).
Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta biết Chúa Cha là Đấng dựng nên vũ trụ và con người, nhưng trên hết, Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con từ thuở đời đời.
Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta biết Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Ba, là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, và là Đấng hướng dẫn Hội Thánh đến chân lý vẹn toàn.
Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, để mời gọi chúng ta thông phần vào sự sống của chính Ba Ngôi Thiên Chúa, đồng thời góp phần làm cho gia đình, dân tộc và Hội Thánh thành cộng đoàn hiệp thông theo khuôn mẫu Thiên Chúa Ba Ngôi.
Thiên Chúa biểu lộ tình yêu cho con người bằng kế hoạch yêu thương từ thuở đời đời, là thông truyền hạnh phúc của Ngài cho con người. Đó là kế hoạch làm cho con người được trở nên nghĩa tử trong Đức Giêsu Kitô và được nên đồng hình đồng dạng với Người.
Thiên Chúa, Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc, hoàn toàn do tình yêu và sự tốt lành, đã tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài.
Ngài quan tâm tới tất cả mọi sự và mọi biến cố của trần gian. Ngài vừa cho con người được hiện hữu, vừa gìn giữ, vừa cho cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa, để hướng dẫn các hoạt động giúp con người đạt tới sự hoàn hảo như Chúa đã thiết định cho con người.
Thiên Chúa không ngừng thông truyền chính mình cho con người trong suốt lịch sử cứu độ, bằng tình yêu lớn hơn tội lỗi và sự bất trung của con người. Được thực hiện cách đầy đủ và trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô. Để trong Người, con người được hiệp thông với Thiên Chúa và được thông phần hạnh phúc vĩnh cửu.
Được biểu lộ cách trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô. Đấng đã mặc lấy thân phận con người, chịu chết và sống lại, để ban ơn cứu chuộc, và cho những ai đón nhận ơn tha thứ và tin vào tình yêu của Thiên Chúa thì được sống đời sống mới trong Đức Kitô.
Tình yêu Thiên Chúa làm cho con người được hiện hữu, được tha thứ, được trở nên con Thiên Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, được no thỏa hạnh phúc và sống đời đời.
Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật. Người đã nhập thể làm người, chịu chết và sống lại, để mạc khải trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa và ơn cứu chuộc đối với nhân loại, để chúng ta sống theo gương Người, và nhờ Người mà được làm con Thiên Chúa.
Người đã mặc lấy trọn vẹn thân phận con người bé nhỏ và khó nghèo, để lấy cái nghèo của Người mà làm cho chúng ta trở nên giàu có. Đồng thời, Chúa cũng dành ba mươi năm sống ẩn dật trong gia đình Thánh Gia, để nêu gương vâng phục, hiếu thảo và sống hiệp thông với Thiên Chúa trong đời sống thường ngày.
Người đã hiện diện như là Đấng cứu độ đầy lòng thương xót qua việc loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tuyển chọn các môn đệ, đi khắp nơi xua trừ ma quỷ, chữa lành bệnh tật, đồng hóa mình với người nghèo, biểu lộ sự gần gũi với người tội lỗi, và dùng các dấu lạ để minh chứng Người là Đấng Mêsia, để kêu gọi mọi người sám hối và tin vào Tin Mừng.
Người đã tự nguyện vâng lời cho đến chết và chết trên cây thập giá, để ôm lấy đau khổ nhất của kiếp người là cái chết. Qua đó, Người nâng con người lên và cứu độ con người.
Trong mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa Giêsu đã chết, để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Người đã sống lại, để mở đường cho chúng ta tiến vào sự sống mới, sự sống làm con Thiên Chúa.
Chúa Giêsu là con người hoàn hảo, cả cuộc đời Người là tiếng xin vâng tuyệt đối với thánh ý Chúa Cha. Người đã tự nguyện dâng hiến chính mình làm hiến lễ yêu thương dâng lên Chúa Cha và đền tội cho nhân loại.
Đem lại cho chúng ta những điều này:
Một là ơn cứu chuộc khỏi tội lỗi;
Hai là cho chúng ta biết mình được yêu thương bằng tình yêu cao cả nhất của Thiên Chúa;
Ba là cho chúng ta một chuẩn mực hoàn hảo để noi theo;
Bốn là để chúng ta kết hợp với Người mà trở nên con Thiên Chúa và đồng hình đồng dạng với Người.
Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa, đồng bản thể với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
Nghĩa là Đức Kitô, Đấng được xức dầu Thánh Thần, trọn vẹn cuộc sống trần thế của Người, hành động chữa lành và cứu độ, đều xuất phát từ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Từ nơi Chúa Cha và nguồn sung mãn của Người, Chúa Giêsu đã tuôn đổ cách đầy tràn Thần Khí của Người xuống trên các Tông đồ. Người thổi hơi và ban Thánh Thần cho họ chiều ngày Phục sinh và họ đã lãnh nhận trọn vẹn Thánh Thần vào ngày lễ Ngũ Tuần.
Vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các Tông đồ được đầy tràn Thần Khí, thì cũng là lúc Chúa Thánh Thần được biểu lộ, trao ban và thông truyền trọn vẹn với tư cách là một Ngôi Vị thần linh.
Nghĩa là tự bản chất Chúa Thánh Thần là tình yêu, được trao ban trong tình yêu tự hiến của Đức Kitô, và sinh ra hoa trái là tình yêu cho Hội Thánh.
Chúa Thánh Thần thánh hóa Hội Thánh, làm phát sinh tình yêu là hoa trái đầu tiên của mọi hoa trái khác, đem lại ơn tha thứ, phục hồi phẩm giá làm con Thiên Chúa, cho ta thông phần vào sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh và giúp ta sống yêu thương như Chúa đã yêu thương ta.
Hội Thánh là cộng đoàn được Thiên Chúa yêu thương và quy tụ, đã đáp trả bằng đức tin và lãnh nhận bí tích Rửa Tội, trở nên con Thiên Chúa, chi thể Đức Kitô, đền thờ Chúa Thánh Thần và được sai đi loan báo Tin Mừng.
Nghĩa là cộng đoàn được yêu thương, được Chúa Giêsu thiết lập, sinh ra và thánh hóa bằng tình yêu thập giá, để trở nên dấu chỉ hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại.
Hội Thánh là cộng đoàn những người đã nhận ra tình yêu kêu gọi của Thiên Chúa và tự nguyện đáp lại bằng sự vâng phục của Đức tin, hoàn toàn tín thác cho Thiên Chúa và đón nhận những gì Thiên Chúa mạc khải, lãnh nhận phép Rửa trong Đức Kitô và sống đời sống mới trong Người.
Hội Thánh là cộng đoàn những người được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa, được tham dự vào sự sống của Người, được biến đổi nên giống Người, như những người con rất yêu dấu, bước đi trong tình yêu, mang lấy những suy nghĩ, lời nói và hành động đã có trong Đức Kitô và sống theo gương Người.
Hội Thánh là cộng đoàn vừa có tính công giáo vừa có tính tông truyền. Nghĩa là vừa có tính phổ quát cho hết mọi người, vừa được sai đi loan báo Tin Mừng, làm cho nhân loại được tham dự vào sự hiệp thông tình yêu vĩnh cửu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.
Là chi thể trong thân thể Hội Thánh, tôi được Thiên Chúa yêu thương và kêu gọi, tôi đáp lại bằng sự vâng phục của đức tin, tái sinh trong phép Rửa, sống kết hiệp mật thiết với Đức Kitô, mang lấy những tâm tình, ý nghĩ và hành động của Người, và theo bậc sống mình, không ngừng dấn thân loan báo Tin Mừng.
Phụng vụ là sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa, là công trình của Chúa Ba Ngôi, là hành động của Đức Kitô và Hội Thánh. Trong đó, dân Chúa được tham dự vào công việc của Thiên Chúa, được gặp gỡ thân tình với Đức Kitô, được thông hiệp vào cuộc Vượt Qua của Người. Nhờ đó, Thiên Chúa được tôn vinh và con người được thánh hóa.
Phụng vụ không xuất phát từ nhu cầu hay nỗ lực của con người trước, mà bắt nguồn từ khát vọng cháy bỏng của Chúa Giêsu, Đấng muốn tái lập mối hiệp thông với con người, để kiện toàn kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cho con người mọi nơi và mọi thời.
Trong phụng vụ, Chúa Cha là nguồn mạch và cùng đích của mọi lời chúc lành, Chúa Con luôn hiện diện và hoạt động, Chúa Thánh Thần dùng quyền năng để hiện tại hóa mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô và kết hợp Hội Thánh vào đời sống và sứ vụ của Người.
Khi tham dự và cử hành phụng vụ, dân Chúa được dự phần vào hành động của Thiên Chúa, được gặp gỡ Đức Kitô và ở lại trong tình yêu của Người, được trở nên dấu chỉ hữu hình về sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người.
Phụng vụ giúp tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa con người, cho con người được giải thoát khỏi tội lỗi, được trở nên con Thiên Chúa, được nếm trước niềm vui Thiên Quốc và được bảo đảm sự sống vĩnh cửu mai sau.
Là chi thể trong thân thể Đức Kitô, mỗi tín hữu được cuốn hút vào sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa trong phụng vụ, để tham dự phụng vụ cách ý thức, tích cực và hữu hiệu.
Bí tích là những dấu chỉ yêu thương hữu hình Chúa Giêsu đã lập và truyền lại cho Hội Thánh cử hành, để diễn tả và thông ban cho chúng ta ân sủng bên trong là sự sống thần linh.
Bảy bí tích là những bí tích này:
Một là bí tích Rửa Tội;
Hai là bí tích Thêm Sức;
Ba là bí tích Thánh Thể;
Bốn là bí tích Thống Hối;
Năm là bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân;
Sáu là bí tích Truyền Chức Thánh;
Bảy là bí tích Hôn Phối.
Bí tích là dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả qua ba khía cạnh này:
Một là dòng chảy yêu thương tuôn trào từ Trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu trên thập giá;
Hai là thể thức yêu thương thiết thực, theo phương thức mầu nhiệm Nhập thể của Chúa Giêsu, để chạm đến con người trọn vẹn cả tinh thần và thể xác;
Ba là bảy dấu chỉ tình yêu đồng hành trọn vẹn mọi khía cạnh của kiếp người.
Trong các bí tích, Chúa Giêsu tiếp tục mầu nhiệm nhập thể qua việc Người dùng những dấu chỉ hữu hình để trao ban ân sủng vô hình. Qua đó, Người biểu lộ sự thấu hiểu phận người, hiện diện sống động với con người, để ở lại, ôm lấy, chữa lành và dưỡng nuôi con người.
Các bí tích Khai tâm đặt nền tảng cho đời sống Kitô hữu: Rửa tội tái sinh ta làm con Thiên Chúa, Thêm sức trao ban Thánh Thần để ta sống chứng nhân, và Thánh Thể là chóp đỉnh và nguồn mạch nuôi dưỡng ta bằng chính Thịt Máu Chúa.
Các bí tích Chữa lành là phương thuốc chữa lành những vết thương của phận người: Thống hối tha thứ và giao hòa ta với Chúa và Hội Thánh; Xức Dầu bệnh nhân ban sức mạnh, nâng đỡ, an ủi và chữa lành ta trong khi đau khổ bệnh tật và chuẩn bị ta cho cuộc vượt qua cuối cùng.
Các bí tích Phục vụ là cách Chúa mời gọi chúng ta trao ban tình yêu: Truyền chức thánh trao quyền năng để các mục tử trở thành hiện thân của Chúa mà rao giảng, thánh hóa và phục vụ cộng đoàn; Hôn phối thánh hóa tình yêu lứa đôi thành dấu chỉ hữu hiệu của giao ước giữa Đức Kitô và Hội Thánh, để giúp nhau nên thánh trong hôn nhân.
Người tín hữu được mời gọi đón nhận các bí tích với sự ngỡ ngàng thán phục trước tình yêu quá lớn lao của Thiên Chúa và siêng năng đón nhận bí tích như đến với dòng suối ân sủng, để được Chúa ôm ấp, chữa lành và biến đổi mỗi ngày nên giống Chúa hơn.
Là bí tích Chúa Giêsu đã lập, để làm cho chúng ta được sinh lại trong đời sống mới bởi nước và Thánh Thần.
Có nghĩa là bí tích Rửa tội như một món quà cần thiết nhất phát sinh từ tình yêu cao cả của Chúa Giêsu trên thập giá.
Nghĩa là người lãnh nhận được dìm vào trong Đức Kitô, trong sự chết và sống lại của Người, để được chết đi cho tội lỗi và sống lại làm con người mới trong Đức Kitô.
Nghi thức chính yếu của bí tích Rửa tội được cử hành thế này: Thừa tác viên vừa đổ nước trên đầu người lãnh nhận, vừa gọi tên người đó và đọc “Tôi rửa anh, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
Để lãnh nhận bí tích Rửa tội, người đến tuổi khôn cần có những điều kiện này:
Một là chưa lãnh nhận bí tích này bao giờ;
Hai là đón nhận Tin Mừng, hoán cải, và trải qua giai đoạn huấn luyện toàn bộ đời sống Kitô giáo;
Ba là tuyên xưng đức tin và tham dự các nghi thức chuẩn bị lãnh nhận bí tích Khai tâm Kitô giáo.
Bí tích Rửa tội ban cho ta những điều này:
Một là được tha tội nguyên tổ và các tội riêng đã phạm;
Hai là được làm con Thiên Chúa;
Ba là được tháp nhập vào Đức Kitô và Hội Thánh;
Bốn là được ghi một dấu ấn thiêng liêng trong linh hồn không bao giờ xóa được.
Bí tích Rửa tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cánh cửa vào đời sống thánh thiêng, giúp tín hữu sống trọn vẹn ơn gọi là con Thiên Chúa, nên thánh và trung thành thực thi ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế; và không ngừng dấn thân xây dựng Hội Thánh với tinh thần đồng trách nhiệm.
Là bí tích Chúa Giêsu đã lập, để tiếp tục hy lễ Vượt Qua của Người và ban Mình Máu Người làm của ăn nuôi sống chúng ta.
Trong bữa ăn Tiệc ly, khi tự nguyện nộp mình chịu khổ hình, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén rượu, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ mà nói: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì này là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Kinh nguyện Thánh Thể II).
Bí tích Thánh Thể được cử hành trong Thánh lễ, gồm hai phần chính và làm thành một cử hành phụng vụ duy nhất:
Một là phụng vụ Lời Chúa, khởi đi từ nhập lễ cho đến hết lời nguyện tín hữu;
Hai là phụng vụ Thánh Thể, khởi đi từ việc chuẩn bị lễ vật cho đến hết lời nguyện hiệp lễ.
Nói lên những điều này:
Một là Thánh Thể hiện tại hóa hy tế thập giá để trao ban chính Mình Máu Chúa Kitô;
Hai là Thánh Thể biểu lộ khát vọng gặp gỡ và hiện diện trọn vẹn với nhân loại của Người;
Ba Thánh Thể là bảo chứng tình yêu cho đến cùng, đem lại ơn hiệp nhất và bảo đảm vinh quang vĩnh cửu.
Nghĩa là mọi bí tích, mọi thừa tác vụ và mọi hoạt động tông đồ, cũng như trọn vẹn đời sống Kitô hữu đều bắt nguồn và quy hướng về bí tích Thánh Thể, nơi chứa đựng toàn bộ của cải thiêng liêng của Hội Thánh là chính Đức Kitô.
Đó là quy hướng trọn vẹn cuộc sống, niềm vui, nỗi buồn, mọi hoạt động, kinh nguyện, việc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, cũng như công ăn việc làm thường ngày, thành hiến lễ thiêng liêng kết hợp với hy lễ của Đức Kitô dâng lên Chúa Cha trong Thánh lễ, để phụng thờ Thiên Chúa và góp phần biến đổi con người nên giống Đức Kitô.
Đó là kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể, để kín múc nơi Người toàn bộ ân sủng cho đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ. Đồng thời, không ngừng dập khuôn đời sống thường ngày theo khuôn mẫu tình yêu Thánh Thể, và dấn thân đem Tin Mừng vào các trật tự trần thế.
Chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực chúng ta.
Bắt nguồn từ lệnh truyền và tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta trước. Chính Ngài đã yêu thương chúng ta và đã ban Con Một là Đức Giêsu Kitô chịu chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi.
Đức Giêsu đã yêu mến Thiên Chúa bằng sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha, qua việc hoàn toàn vâng phục thánh ý Ngài, luôn làm điều đẹp lòng Ngài, và hy sinh mạng sống trên thập giá làm của lễ dâng lên Chúa Cha.
Chúng ta phải tin kính, trông cậy và yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Đồng thời luôn ngợi khen, cảm tạ và tuyệt đối quy phục Ngài, không ngừng cầu nguyện và dâng hy lễ lên Thiên Chúa.
Chúng ta phải loại trừ mọi ngẫu tượng, không được tôn thờ hay kính bái bất cứ một ngẫu tượng nào, cho dù đấy là thần linh, ma quỷ, quyền lực, khoái lạc, tiền bạc, hay bất cứ thụ tạo nào khác.
Khi đặt Thiên Chúa làm trung tâm và là chóp đỉnh của tình yêu, chúng ta sắp xếp lại trật tự mọi mối tương quan, mọi mối bận tâm, mọi của cải trần thế và cả những đam mê của chúng ta. Đó là con đường dẫn đến tự do đích thực và hạnh phúc viên mãn.
Đó là làm ba việc này:
Một là ý thức, tôn trọng và bảo vệ phẩm giá cao quý của mình là hình ảnh Thiên Chúa;
Hai là biết chọn và sống con đường hoàn thiện như Đức Kitô.
Ba là chăm sóc toàn diện con người mình cả thể xác và tinh thần.
Đó là tình yêu đi bước trước của Thiên Chúa và mẫu gương hoàn hảo của Đức Giêsu.
Đức Giêsu luôn bảo vệ căn tính Thần Linh của mình, luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Cha trong cầu nguyện, và hoàn toàn tự do dâng hiến mạng sống mình vì tình mến Chúa Cha và tình yêu nhân loại.
Chúng ta phải hãnh diện mình là hình ảnh của Thiên Chúa, ăn ở xứng đáng với Tin Mừng của Đức Kitô, biết sử dụng tự do để nhận biết, yêu mến và đi vào hiệp thông với Thiên Chúa, và luôn sẵn sàng tự hiến chính mình cho Thiên Chúa và kế hoạch yêu thương của Ngài.
Chúng ta phải từ bỏ chính mình, bước theo con đường của Đức Kitô, sống trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và chuyên chăm thực hành điều thiện.
Chúng ta phải đón nhận sự sống với lòng biết ơn, phải chăm sóc và gìn giữ sự sống thể lý và tinh thần bằng nhân đức tiết độ, để góp phần tôn vinh Thiên Chúa và để cứu độ linh hồn chúng ta.
Đó là điều tiết sức lôi cuốn của những thú vui, giữ sự chừng mực trong việc sử dụng của cải trần thế, làm chủ bản năng và kiềm chế các ham muốn.
Chúng ta phải yêu thương tha nhân như chính mình.
Tình yêu tha nhân bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu, chính Ngài đã yêu thương con người trước và truyền cho con người phải yêu thương nhau.
Chúa Giêsu và tình yêu của Người là sức mạnh và là khuôn mẫu cho tình yêu tha nhân. Như chính Người đã phán:“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12)
Chúa Giêsu đã yêu thương tha nhân bằng tình yêu vĩnh cửu Người đã nhận từ Chúa Cha. Người đã yêu đến cùng và đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho con người.
Chúng ta yêu tha nhân bằng tình yêu đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu. Cũng như Người, chúng ta phải yêu mến cả kẻ thù, phải trở thành người lân cận cho những kẻ ở xa, phải yêu thương trẻ em, và người nghèo như chính Người.
Chúng ta phải coi người lân cận, không trừ một ai, như cái tôi thứ hai của mình, phải biết quan tâm đến sự sống của họ và những phương tiện cần thiết giúp họ sống xứng với nhân phẩm.
Chúng ta phải ở lại trong tình yêu của Chúa. Đó là kết hiệp mật thiết với Chúa trong phụng vụ và cầu nguyện, là lắng nghe và tuân giữ điều răn của Người, để kín múc năng lượng yêu thương nơi Chúa, và bắt chước tình yêu của Người.
Vũ trụ là ngôi nhà chung của chúng ta, vì trong đó mọi thụ tạo đều có chung một Đấng Tạo Hóa, đều liên kết với nhau và sống chung dưới một mái nhà.
Thiên Chúa ban tặng ngôi nhà chung như dấu chỉ tình thương và sự âu yếm vô tận của Ngài đối với chúng ta. Để qua việc canh tác và bảo vệ trái đất, chúng ta được nuôi dưỡng, hoàn thiện chính mình, nhận biết và chúc tụng Thiên Chúa.
Đó là tình yêu Thiên Chúa, Đấng dựng nên mọi loài trong tình yêu, muốn cho mọi loài được tham dự vào sự tốt lành của Ngài, và hằng yêu thương mọi loài hiện hữu.
Chúa Giêsu đã sống hòa hợp trọn vẹn với ngôi nhà chung. Người đã mặc lấy thế giới thụ tạo cho đến tận cùng là cái chết trên thập giá, và đã kết hợp tất cả vũ trụ trong Người khi biến đổi bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người.
Đó là sự đổ vỡ trong mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân và với trái đất, dẫn đến tình trạng con người thay thế Thiên Chúa làm chủ trái đất, làm cho trái đất kêu gào vì sự lạm dụng và bóc lột của con người.
Chúng ta phải hoán cải để nhận thức thế giới là một ân huệ của tình yêu Thiên Chúa, đồng thời, phải tôn trọng trật tự, vẻ đẹp và sự toàn vẹn của công trình tạo dựng, không ngừng dấn thân chăm sóc và bảo vệ ngôi nhà chung, và luôn kết hiệp với vũ trụ chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa.
Nhờ Đức Kitô và qua bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, là chi thể trong thân thể Đức Kitô là Hội Thánh Người, nên có mối tương quan hiệp thông thân tình với Thiên Chúa.
Chúng ta tuyên xưng đức tin, cử hành mầu nhiệm đức tin, sống đời sống mới trong Chúa Kitô và cầu nguyện thân tình với Thiên Chúa.
Chúa Giêsu luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Cha trong cầu nguyện, bằng tâm tình con thảo, bao hàm sự gắn bó đầy tình yêu với thánh ý Chúa Cha cho đến trọn vẹn trên thập giá.
Cầu nguyện là sống mối tương quan sống động, cá vị và giao ước với Thiên Chúa hằng sống, là sự đáp lại khát khao của Thiên Chúa trong gặp gỡ và sự kết nối thân tình từ con tim.
Nghĩa là Thiên Chúa luôn chủ động và đi bước trước. Ngài khát khao chúng ta khao khát Ngài, và lời cầu nguyện của chúng ta là tình yêu đáp lại nỗi khát khao của Thiên Chúa.
Cầu nguyện là một tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người trong Đức Kitô. Đó là hành động của Thiên Chúa và hành động của con người. Nên cầu nguyện là sức sống cho toàn bộ đời sống và sứ vụ Kitô hữu.
Cầu nguyện giúp ta sống hiệp thông thân tình với Thiên Chúa, giúp biến đổi nội tâm và lối sống thường ngày của ta nên giống Đức Kitô.
Cầu nguyện làm biến đổi tâm hồn chúng ta, làm ta bừng cháy lửa tin, cậy, và mến Chúa, nhất là làm cho ta đón nhận thánh ý Chúa, và biến đổi ước muốn của ta nên giống ước muốn của Ngài.
Cầu nguyện làm biến đổi tâm hồn, dẫn đến biến đổi lời nói và lối sống, làm cho ta luôn hành động theo thánh ý Chúa.
Qua cầu nguyện, trái tim nhân loại của Chúa Giêsu được biến đổi và tháp nhập trọn vẹn vào tình yêu và thánh ý của Chúa Cha. Trong đó, thần tính của Người được hiển dung, và ý chí nhân loại của Người hoàn toàn đón nhận cái chết như một hy tế đem lại ơn cứu độ cho con người.
Chúng ta phải siêng năng và kiên trì trong cầu nguyện. Không nản lòng khi những ơn cầu xin chưa được trả lời. Nhưng luôn nhận ra sự biến đổi tâm hồn và lối sống là câu trả lời của Chúa cho những điều ta cầu xin.